January 9, 2019

Thành phố Cao Hùng – Hồng Kông thu nhỏ của đất nước Đài Loan


Cao Hùng (Kaohsiung), với hơn 2,7 triệu người, là thành phố đông dân thứ ba ở Đài Loan sau Đài Bắc và Đài Trung và nằm ở phía nam đảo Đài Loan. Cao Hùng nổi tiếng với bến cảng lớn. Do đó nó còn được gọi là thành phố cảng của Đài Loan. Thời tiết tốt quanh năm và chi phí sinh hoạt thấp làm cho Cao Hùng trở thành nơi rất đáng đến để sống và du lịch tại Đài Loan.

Bản đồ vị trí địa lý thành phố Cao Hùng

Cao Hùng là trung tâm chế tạo, lọc dầu và vận tải hàng hải lớn của Đài Loan. Không giống như Đài Bắc, các đường phố của Cao Hùng rộng rãi và giao thông thông suốt hơn. Tuy nhiên, ô nhiễm không khí của các khu vực xung quanh Cao Hùng thì khá tệ do các ngành công nghiệp nặng gây ra. Cảng Cao Hùng là cảng chính của Đài Loan mà phần lớn dầu mỏ của Đài Loan được nhập khẩu. Cao Hùng có một khu chế xuất sản xuất nhôm, gỗ, và giấy, phân đạm, xi-măng, kim loại, máy móc và tàu biển. Cảng Cao Hùng là một trong 4 cảng lớn nhất thế giới và Cao Hùng là trung tâm ngành công nghiệp đóng tàu của Đài Loan và cũng là căn cứ hải quân lớn của Trung Hoa Dân Quốc. Hệ thống tàu điện ngầm và MRT sẽ vận hành trong năm 2006. Thành phố Cao Hùng đã tổ chức World Games 2009 – một thế vận hội cơ bản không có những môn được thi đấu trong Thế Vận Hội.

Lịch sử hình thành và phát triển của Cao Hùng

Cao Hùng được thành lập vào gần cuối thế kỷ 17, ngôi làng khi đó được gọi là Đả Cẩu bởi những người nhập cư Phúc Kiến vào thời kỳ đầu. Tên gọi này bắt nguồn từ ngôn ngữ Makatao của thổ dân bản địa và có nghĩa là “rừng tre”. Người Hà Lan đã xây dựng nên phào đài Zeelandia vào năm 1624 và đánh bại các bộ lạc thổ dân bản địa vào năm 1635. Họ gọi khu vực này là Tancoia. Trịnh Thành Công đã trục xuất người Hà Lan và lập nên một chính quyền phục Minh vào năm 1662. Trịnh Kinh, con trai của Trịnh Thành Công, đã đổi tên làng thành Vạn Niên Châu . Tên gọi Đả Cẩu lại được phục hồi vào cuối thập niên 1670, khi khu vực được mở mang một cách đột ngột với những người nhập cư đến từ Trung Quốc đại lục. Năm 1684, nhà Thanh đã sáp nhập Đài Loan và đổi tên khu vực bao gồm Cao Hùng ngày nay thành huyện Phượng Sơn. là một phần của phủ Đài Loan. Khu vực Cao Hùng ngày nay đã lần đầu tiên được phát triển như một khu vực cảng vào thập niên 1680. Năm 1895, Đài Loan bị nhượng cho Nhật Bản theo các điều khoản của Hiệp ước Shimonoseki. Vào thời kỳ này, tên gọi của thành phố chuyển từ Đả Cẩu thành Cao Hùng.

Người Nhật phát triển Cao Hùng , đặc biệt là cảng. Do là một căn cứ quân sự và trung tâm công nghiệp quan trọng, thành phố đã bị quân đội Hoa Kỳ ném bom rất nhiều trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau khi Trung Hoa Dân Quốc kiểm soát Đài Loan vào năm 1945, tên gọi bằng Hán tự mà người Nhật đặt cho thành phố vẫn được sử dụng, chính quyền sử dụng phiên âm Latinh theo hệ Wade-Giles là “Kaohsiung”. Cao Hùng được Hành chính viện phê chuẩn trở thành một thành phố đặc biệt vào ngày 1 tháng 7 năm 1979.

Các khu vực hành chính của Cao Hùng

Sau khi sáp nhập với huyện Cao Hùng, Cao Hùng hiện có 38 khu. Chính phủ Trung ương Đài Loan công nhận hệ thống bính âm Hán ngữ làm chuẩn để phiên âm Latinh tương tự như tại Trung Quốc đại lục, còn chính quyền Cao Hùng, vốn do đảng Dân Tiến nắm quyền, lấy phương pháp bính âm thông dụng làm chuẩn phiên âm.

Bản đồ các khu vực hành chính của Cao Hùng

Diêm Trình: Khu vực quận vốn là vùng đầm lầy nhưng đã được cải tạo và phát triển cùng với sự nhộn nhịp của cảng Cao Hùng. Quận hiện không còn là khu vực sầm uất nhất của thành phố do xu hướng dịch chuyển về phía đông nhưng nền kinh tế hiện cũng có nhiều khởi sắc. Diêm Trình có diện tích 1,4161 km² và là quận có diện tích nhỏ nhất tại thành phố. Dân số Diêm Trình vào tháng 8 năm 2011 là 26.986 người thuộc 11.139 hộ gia đình, mật độ cư trú là 19056,6 người/km².

Cổ Sơn: Quận nằm ở khu vực trung tâm thành phố và ở phía bắc của cảng Cao Hùng. Cổ Sơn có địa hình khá bằng phằng với diện tích là 14,7458 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 132.393 người thuộc 52.905 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 8978,4 người/km².

Tả Doanh: Quận nằm ở phía bắc của khu vực đô thị của thành phố và là nơi đặt trụ sở của một số đơn vị hải quân quan trọng của Đài Loan. Tả Doanh có diện tích 19,3888 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 192.973 người thuộc 74.635 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 9952,8 người/km².

Nam Tử: Quận nằm ở phía bắc của khu vực trung tâm thành phố và có khu công nghệp Nam Tử cùng một số trường đại học trên địa bàn như Đại học Quốc lập Cao Hùng. Quận có diện tích 25,8276 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 173.477 người thuộc 62.414 hộ gia đình, mật độ dân cư đạt 6716,7 người/km².

Tam Dân: Quận nằm ở khu vực trung tâm thành phố và có diện tích 19,7866 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 352.395 người thuộc 132.449 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 17809,8 người/km².

Tân Hưng: Đây là quận trung tâm của Cao Hùng và là nơi tọa lạc trụ sở của nhiều tổ chức kinh tế, tài chính cũng như các trung tâm thương mại lớn. Tân Hưng có diện tích 1,9764 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 54.663 người thuộc 22.851 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 27657,9 người/km².

Tiền Kim: Quận nằm trong khu vực trung tâm thành phố và là nơi đặt trụ sở của nhiều cơ quan chính quyền và các cơ sở giáo dục. Tiền Kim có diện tích 1,8573 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 28.480 người thuộc 12.547 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 15334,1 người/km²

Linh Nhã: Đây là quận trung tâm về mặt địa lý của khu vực đô thị của Cao Hùng, tòa thị chính Cao Hùng nằm tại quận này. Linh Nhã có diện tích 8,1522 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 182.195 người thuộc 71.962 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 22349,2 người/km².

Tiền Trấn: Quận có địa hình bằng phẳng và nằm ngay ở phía tây của cảng Cao Hùng. Trên địa bàn quận có nhiều cơ sở thương mại dịch vụ cùng với khu chế xuất Cao Hùng. Tiền Trấn có diện tích 19,1207 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 197.991 người thuộc 76.815 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 10354,8 người/km².

Kỳ Tân: Địa bàn của quận là toàn bộ hòn đảo Kỳ Tân ở phía đông của cảng Cao Hùng. Dân cư của quận Kỳ Tân hầu hết đều phụ thuộc vào ngành công nghiệp hàng hải. Hòn đảo Kỳ Tân từng được kết nối với đất liền ở phần cực nam, tuy nhiên nó đã bị đào để mở một lối ra vào thứ hai cho cảng Cao Hùng. Kỳ Tân có diện tích 1,4639 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 29.768 người thuộc 10.986 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 20334,7 người/km². Về mặt hành chính, Kỳ Tân quản lý cả quần đảo Đông Sa và đảo Ba Bình tại Quần đảo Trường Sa.

Tiểu Cảng: Quận nằm ở phía nam khu vực đô thị của thành phố và là nơi tọa lạc sân bay quốc tế Cao Hùng. Tiểu Cảng có diện tích 39,8573 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 154.472 người thuộc 63.930 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 3875,6 người/km².

Phượng Sơn: Quận nằm ở khu vực trung tâm thành phố và là nơi đặt trụ sở của Học viện sĩ quan lục quân Trung Hoa Dân Quốc. Phượng Sơn có diện tích 26,7590 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 344.269 người thuộc 128.836 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 12865,5 người/km².

Lâm Viên: Đây là một quận ven biển và nằm ở cực nam của Cao Hùng, tiếp giáp với huyện Bình Đông. Lâm Viên có một nhà máy lọc dầu lớn nhất khu vực phía nam Đài Loan và dược xây dựng từ thập niên 1970. Diện tích của Lâm Viên là 32,2860 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 70.292 người thuộc 24.342 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 2177,2 người/km².

Đại Liêu: Đây là một quận nông thôn và kinh tế chưa phát triển cao. Diện tích của Đại Liêu là 71,0400 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 109.108 người thuộc 38.766 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 1535,9 người/km².

Đại Thụ: Đây là một quận nông thôn và tiếp giáp với huyện Bình Đông, tỉnh Đài Loan ở phía đông. Diện tích của Đại Thụ là 66,9811 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 43.701 người thuộc 13.113 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 652,4 người/km².

Đại Xã: Cư dân trong quận có một tỷ lệ cao là dân gốc Triều Châu. Đại Xã có diện tích 26,5848 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 33.202 người thuộc 11.869 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 1248,9 người/km².

Nhân Vũ: Nhân Vũ có địa hình bằng phẳng ở phía tây, trong khi phía đông có nhiều đồi núi. Diện tích của quận là 36,0808 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 74.123 người thuộc 26.802 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 2054,4 người/km².

Điểu Tùng: Đây là một quận nông thôn và được biết tới với thắng cảnh hồ Trừng Thanh. Diện tích của quận là 24,5927 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 43.092 người thuộc 16.828 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 1752,2 người/km².

Cương Sơn: Vào năm 1920, dưới thời Đài Loan là thuộc địa của Nhật Bản, khu vực này đã được đổi tên thành Cương Sơn và trở thành một địa điểm phục vụ cho không quân Nhật Bản. Quận có diện tích 47,9421 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 97.216 người thuộc 33.500 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 2027,8 người/km².

Kiều Đầu: Quận nằm ven suối Điển Bảo và có địa hình khá bằng phẳng. Diện tích của quận là 25,9379 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 36.805 người thuộc 12.867 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 1419 người/km².

Yên Sào: Quận có địa hình bằng phẳng và chủ yếu phát triển nông nghiệp. Yên Sào có diện tích 65,3950 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 30.901 người thuộc 10.125 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 472,5 người/km².

Điền Liêu: Dây là một quận nông thôn và có nhiều đồi núi trên địa bàn. Diện tích của Điền Liêu là 92,6802 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 8.082 người thuộc 3.524 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 87,2 người/km²

A Liên: Ngoài núi Đại Cương ở phía đông, địa hình của quận nói chung là bằng phẳng. Diện tích của A Liên là 34,6164 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 30.235 người thuộc 9.207 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 873,4 người/km².

Lộ Trúc: Quận nằm trên đồng bằng Gia Nam và có độ hình cao dần từ tây sang đông. Diện tích của Lộ Trúc là 48,4348 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 53.572 người thuộc 16.173 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 1106,1 người/km².

Hồ Nội: Đây là một quận nông thôn và có quan hệ gần gũi hơn với Đài Nam do khoảng cách từ quận đến khu vực đô thị của Đài Nam gần hơn là tới trung tâm đô thị của Cao Hùng. Diện tích của Hồ Nội là 20,1615 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 28.769 người thuộc 9.680 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 1426,9 người/km².

Gia Định: Đây là huyện ven biển cực bắc của Cao Hùng và chỉ cách khu vực đô thị của Đài Nam qua con sông Nhị Nhân. Do vị trí gần gũi, cư dân trong quận có các quan hệ phi hành chính gần gũi hơn với khu vực trung tâm đô thị của Đài Nam hơn là Cao Hùng. Gia Định có diện tích 15,7624 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 31.090 người thuộc 10.173 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 1972,4 người/km².

Vĩnh An: Trên địa bàn quận có nhà máy điện Hưng Đạt, một trong những nguồn cung cấp điện năng quan trọng của miền nam Đài Loan. Vĩnh An có diện tích 22,6141 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 14.159 người thuộc 5.829 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 626,1 người/km².

Di Đà: Di Đà được thành lập từ năm 1920 và hiện có diện tích 14,7772 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 đạt 20.297 người thuộc 6.666 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 1373,5 người/km².

Tử Quan: Quận có địa hình bằng phằng và phát triển về nông nghiệp và thủy sản, nhất là sản phẩm rau xanh. Tử Quan có diện tích 11,5967 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 36.604 người thuộc 12.128 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 3156,4 người/km².

Kỳ Sơn: Đây là một quận nông thôn có địa hình đồi núi, các nông sản có tiếng là chuối và đu đủ. Kỳ Sơn có diện tích 94,6122 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 39.637 người thuộc 13.866 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 418,9 người/km².

Mỹ Nùng: Khu vực quận đã trồng cây thuốc lá từ năm 1630 và nổi tiếng khắp Đài Loan với sản phẩm ô có các họa tiết sơn dầu. Mỹ Nùng nằm trên lưu vực của con sông cùng tên và có diện tích 120,0316 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 42.759 người thuộc 14.299 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 356,2 người/km²

Lựu Khưu: Lưu Khưu là một quận nông thôn miền núi và thuộc lưu vực của sông Lục Khưu. Diện tích của quận là 194,1584 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 14.546 người thuộc 5.785 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 74,9 người/km²

Giáp Tiên: Đây là một quận nông thôn miền núi với nông sản có tiếng là khoai sọ và măng tre. Diện tích của quận là 124,0340 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 7.066 người thuộc 2.505 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 57 người/km².

Sam Lâm: Đây là một quận nông thôn miền núi và tập trung nhiều người Khách Gia sinh sống. Diện tích của quận là 104,0036 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 11.919 người thuộc 4.458 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 114,6 người/km².

Nội Môn: Đây là một quận miền núi và cư dân chủ yếu sinh sống nhờ vào nông nghiệp. Nội Môn có diện tích 95,6224 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 15.705 người thuộc 5.046 hộ gia đình. Mật độ cư trú đạt 164,2 người/km².

Mậu Lâm: Đây là một quận miền núi và là nơi cư trú của thổ dân Đài Loan. Diện tích của quận là 194 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 chỉ là 1.838 người thuộc 576 hộ, mật độ cư trú đạt 9,5 người/km².

Đào Nguyên: Đây là quận có diện tích lớn nhất thành phố và bao gồm công viên quốc gia Ngọc Sơn cũng như khu phong cảnh quốc gia Mậu Lâm. Dân cư trong quận chủ yếu là thổ dân Đài Loan. Diện tích của quận là 928,98 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 4.739 người thuộc 1.361 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 5,1 người/km².

Na Mã Hạ: trước đây gọi là hương Tam Dân. Quận nằm trên dãy núi Ngọc Sơn và dân cư chủ yếu là thổ dân Đài Loan. Na Mã Hạ có diện tích 252,9895 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 3.319 người thuộc 883 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 13,1 người/km².

Theo Xã luận

(Visited 53 times, 1 visits today)